Thành Cổ lãng mạn từ nghìn năm – phần 1

PHƯỢNG HOÀNG THÀNH

(MIÊU THÀNH)

Thành cổ không uy nghiêm mà lãng mạn từ nghìn năm

Phượng Hoàng là một thị trấn cổ nằm ở huyện Phượng Hoàng, phía tây tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Nơi đây được xây dựng bên dòng Đà Giang thơ mộng từ hơn 1.000 năm trước nhưng vẫn còn nguyên vẹn nét văn hóa, kiến trúc đặc trưng của nghìn xưa để lại.

 Dòng đà giang thơ mộng từ hơn 1.000 năm trước nhưng vẫn còn nguyên vẹn nét văn hóa, kiến trúc đặc trưng của nghìn xưa để lại.

(Theo một ý kiến khác, phân tích bằng “chiết tự” thì chữ Đà và chữ Giang ghép lại có nghĩa là con kênh đào nhân tạo. Quả đúng con sông nhỏ này cung là con sông nhân tạo).

Thị trấn cổ Phượng hoàng được liệt kê vào danh sách dự kiến di sản thế giới UNESCO hạng mục văn hóa vào ngày 28/3/2008. Ngày nay, cổ trấn nhỏ này thu hút rất nhiều lượt khách du lịch mỗi năm.

Nhiều người nhận định, chính cuộc sống không thay đổi nơi đây trong nhiều thế kỷ là điểm hấp dẫn nhất của Phượng Hoàng. Thị trấn giúp du khách có cái nhìn sắc nét về một Trung Quốc khác, không hối hả, trầm mặc và yên bình.

Phượng Hoàng Thành có lịch sử thế nào?

Theo lịch sử ghi lại, từ triều đại Đường của những năm 686, Phượng Hoàng được xây dựng rồi dưới thời Minh – Thanh (giai đoạn 1368 – 1644) nhanh chóng trở thành một trung tâm chính trị, văn hóa và quân sự lớn.

Phượng Hoàng là nơi sinh sống chủ yếu của người Miêu, người Thổ Gia và người Hán. Toàn bộ những kiến trúc cổ lớn của Phượng Hoàng còn giữ lại cho đến nay đa phần đều là công xây dựng từ thời nhà Thanh (1644 – 1911), do người Hán cùng người Miêu hoàn thành.

Phượng Hoàng là nơi sinh sống chủ yếu của người Miêu, người Thổ Gia và người Hán.

Một trong những điểm đặc trưng của cổ trấn nằm ở phong cách kiến trúc “phượng hoàng”, được thể hiện trong cách xây dựng các hợp viện, nhà ở và những cây cầu lớn. Cầu Hồng Kiều ở trung tâm cổ trấn là một biểu tượng của phong cách này.

Xây dựng vào năm 1615, nó được thiết kế như một nhà lâu dài, gồm hai tầng lầu bắc qua sông Đà.

Cột cầu có niên đại từ thời nhà Minh, được chạm trổ hoa văn chìm. Phần mái lợp ngói cổ âm dương, đầu mái cong vút, kiêu hãnh như phượng hoàng.

Cột cầu có niên đại từ thời nhà Minh, được chạm trổ hoa văn chìm. Phần mái lợp ngói cổ âm dương, đầu mái cong vút, kiêu hãnh như phượng hoàng.

Kiểu kiến trúc này ngày nay vẫn rất thịnh hành ở cổ trấn. Các căn nhà mới xây, thậm chí là chung cư cũng ưa chuộng kiểu mái này.

Vốn là một thành lũy quan trọng nhất ở vùng biên giới phía Nam và là trung tâm kinh tế, chính trị xã hội của cả vùng, Phượng Hoàng đã trải qua nhiều biến động lịch sử, các cuộc xung đột sắc tộc và trở thành một tòa thành có văn hóa pha trộn giữa người Hán và người Miêu.

Ban đầu, Phượng Hoàng chỉ là một thành cổ nhỏ nằm về một phía của bờ sông Đà. Theo thời gian, người địa phương chuyển sang sinh sống ở cả hai bên bờ, khiến nơi đây ngày một tấp nập.

Dòng Đà Giang là huyết mạch của cổ trấn, cũng là nơi lưu giữ nhiều dấu tích cổ xưa và là một điểm nhấn, giúp tạo nên cảnh sắc nơi đây. Do có phần đáy không quá sâu và lại chứa nhiều tảo và rêu, nên màu nước con sông luôn hiện diện một màu xanh lục đẹp mắt.

Tại cổ trấn, du khách có thể dễ dàng du nhập vào nếp sống sinh hoạt rất bình dị của các dân tộc tại đây.

Những vẻ đẹp mộc mạc tại Cổ thành

Hình ảnh những cô gái dân tộc Miêu bên sạp hàng nhỏ thêu thùa, khâu vá, làm các đồ thủ công mỹ nghệ bằng bạc tinh xảo hay người dân tộc Thổ Gia kết đèn hoa bằng giấy với nhụy là một cây nến nhỏ, để ai đó có thể đốt lên ước mơ của mình và thả xuống dòng sông, được coi là nét đặc trưng của trấn.

Mặc dù cuộc sống hiện đại, nhưng người dân vẫn giữ tập tục hàng ngày, ra bến Đà giang tắm giặt, rửa rau quả… như một nghi thức quen thuộc của người dân địa phương chốn này.

Hình ảnh những cô gái dân tộc Miêu bên sạp hàng nhỏ thêu thùa, khâu vá, làm các đồ thủ công mỹ nghệ bằng bạc tinh xảo hay người dân tộc Thổ Gia kết đèn hoa bằng giấy với nhụy là một cây nến nhỏ, để ai đó có thể đốt lên ước mơ của mình và thả xuống dòng sông, được coi là nét đặc trưng của trấn.

Cứ vào 5h sáng, những người dân sống trong cổ trấn thường mang quần áo ra giặt giũ ở dọc hai bên dòng sông Đà Giang.

Mặc dù hầu hết nhà nào cũng có máy giặt và máy sấy nhưng người dân nơi đây vẫn thường giặt quần áo bằng cách dùng chày đập. Tiếng đập quần áo vẫn thường vang lên giữa không gian tĩnh mịch vào những buổi sáng còn mờ hơi sương.

Có lẽ với cổ trấn từ những điều đơn giản nhất như thế đều gắn liền với sông Đà Giang. Các bà các chị rủ nhau ra sông, vừa dùng lực đập quần áo, vừa cười nói hồ hởi. Người dân trấn cổ, tuy tránh xa chốn đèn hoa giăng lối tấp nập, vẫn náo nhiệt, vui vẻ chẳng kém chốn.

(còn tiếp)

1 Comment

Post A Comment

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.